Huyền Trung Mị

Chương 37: Chương 37




Lệnh chủ hỏi han ngay: “Nương tử, nàng nhức đầu sao? Để vi phu xoa cho nàng nhé.” Nói rồi chàng tự động đè tay lên huyệt thái dương hôn thê, không buồn để ý xem quần chúng đứng nhìn phỉ nhổ nhiều thế nào mà vẫn khoái trá xoa bóp cho nàng.

Vô Phương đẩy tay chàng ra, “Đầu ta không đau, ngài nhìn thế nào mà bảo ta đau đầu hả?”

“Vậy nàng đỡ trán làm gì? Không phải đau đầu thế còn có lý do khác sao?”

Nói ra nguyên nhân chỉ sợ đối phương không nén được giận, nàng quay đầu nhìn Hoàng Tuyền ở xa xa để vơi bớt ưu sầu. Đôi khi nàng cảm thấy lệnh chủ ngu ngốc tới độ không tưởng tượng nổi, trước đây vị này có thể đánh một trận thành danh khắp Sát Thổ, theo lý mà nói thì tuyệt đối có chỗ xuất chúng mới được vậy. Nhưng kết quả thế nào, chàng chính là một đồ ngốc chính hiệu, có mấy bận sâu sắc đột xuất cũng chẳng qua do đánh bậy đánh bạ thôi. Thế nên chàng chỉ có thể được một đám tượng đất cao đến đầu gối đuổi theo gọi cha ở Yểm Đô, chứ ra khỏi Yểm Đô thì chẳng có ai coi chàng ra gì cả – ngoại trừ lúc đi đòi nợ.

“Lệnh chủ, ngài có mục tiêu sống không?”

Đường đời dài đằng đẵng, cũng may có nàng làm bạn. Lệnh chủ nhìn hôn thê, kiên định đáp ngay: “Có chứ! Ta là một người thiết thực, mục tiêu của kẻ khác là tinh tú là biển rộng, còn mục tiêu của ta là hồ rượu với rừng thịt. Điều ta muốn làm bây giờ chính là động phòng với nàng, sau đó cùng nàng và đám tượng trải qua cuộc sống xa hoa hưởng lạc.”

Chí hướng lớn thật đấy, Vô Phương phát hiện đàm đạo về lý tưởng cuộc đời với lệnh chủ là hành động dư hơi, vị này chính là một bộ rễ cây, yêu cầu sinh lý được thỏa mãn rồi thì chả khác gì bãi bùn nhão cả.

“Ngài có muốn nghe mục tiêu của ta không?” Vô Phương cười cười với chàng.

Lệnh chủ cảm thấy nụ cười của hôn thê rất đẹp, nhưng e ngại nội dung sau đấy sẽ bất lợi với mình, thế là chàng rào đón trước: “Chỉ cần không phải muốn thoát khỏi ta là được.”

May mà nàng lắc đầu, “Lúc mới đến cõi đời này, ta từng theo Liên sư lên núi Cát Tường một lần. Trên núi Cát Tường ngoài thiên nữ ra thì còn có rất nhiều Không Hành Mẫu. Ngài có biết Không Hành Mẫu là gì không? Không Hành Mẫu trên núi Cát Tường đều là nữ La Sát do Liên sư thu phục, Liên sư ấy nói các nàng ấy có thể đắc đạo, chỉ cần một lòng hướng Phật thì sau này ngay cả sát hung như ta cũng có thể. Cho nên qua nhiều năm như thế, mục tiêu của ta vẫn luôn là lên núi Cát Tường làm Không Hành Mẫu, ngoài vinh quang cá nhân thì cũng là để tìm đường siêu thoát cho mình. Sát hung vốn không có căn cơ, ngài hẳn biết rõ điều này. Ta từ đâu đến, tương lai đi về đâu, chẳng ai nói trước được. Nhưng lên núi Cát Tường, có Phật quang soi sáng, từng ngày góp nhặt căn cơ là sẽ vững thôi, không sợ sau này vô cớ biến mất.”

“Chính vì thế ta mới muốn nàng ăn ếch nghìn tuổi đấy, đợi sau này có cơ hội, ta sẽ tìm cho nàng thêm nhiều thứ tốt nữa, nàng ăn rồi thì không cần lên núi làm ni cô nữa.” Lệnh chủ nói rất nghiêm túc: “Không Hành Mẫu bất tử bất diệt giống Phật, nhưng đãi ngộ của bọn họ thua xa Phật. Cứ nói Liên sư mà nàng kính trọng nhất kia kìa, ông ta đã đổi hai vị Minh phi rồi, tiêu chuẩn chọn Minh phi lại rất hà khắc, vừa có phong thái vừa thanh tú, kiều diễm với eo thon… Ta thấy nàng hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn đó. Nên nương tử à, nàng tuyệt đối không được lên núi Cát Tường. Nói không chừng người ta đã ngắm nghía nàng từ lâu rồi, lừa nàng lên núi chả phải để làm Không Hành Mẫu gì đâu, muốn nàng song tu với y thì đúng hơn. Nếu vậy chẳng thà nàng tu với ta, ta mặc y phục trông gầy, nhưng cởi ra thì cơ bắp ngồn ngộn đấy. Liên sư tu được ba bốn bận là cùng, còn ta có thể cả năm không nghỉ, nàng cảm thấy sao?”

Nghe lệnh chủ lải nhãi cả buổi, cuối cùng Vô Phương tức tới nỗi không nói ra lời, đánh mạnh chàng hai cái, “Ta đúng là xui xẻo mới gặp phải đồ ngốc như ngài.”

Lệnh chủ bị nàng đánh đau, vừa xoa cánh tay vừa lầm bầm: “Ta nói thật cả mà, đâu có gạt nàng. Ôi con đường này tối quá, thị lực của ta không bằng nương tử, sợ ngã quá, nàng dắt ta đi được không?”

Vô Phương không buồn để ý tới trò mèo của chàng, chỉ tò mò hỏi: “Ngài thân ở uế thổ, lại không phải là phần tử của ngã Phật, sao lại biết được nhiều chuyện liên quan tới Liên sư thế?”

Lệnh chủ hơi lắp bắp, “Trước… trước kia ta cũng là người rất hiếu học, tộc ta trước khi nhập thế ai cũng phải học để biết hết chuyện khắp thiên hạ. Mấy thứ bí mật kia của Thần Phật làm sao giấu được bọn ta chứ?” Chàng cười khửa khửa, “Nương tử đừng hâm mộ bọn họ làm gì, sau khi lỡ chân tới nơi chán phèo đó, nàng mà muốn rời đi thì sẽ thành phản đồ của Phật giới đấy. Chả làm gì xấu mà phải còng lưng cõng cái tội danh như vậy? Thà cùng vi phu ở uế thổ này xưng vương xưng bá còn hơn, không vừa mắt kẻ nào đều có thể đánh ngay, trên núi Cát Tường đâu thể làm theo ý mình như vậy.”

Khi kể lể lệnh chủ thường hay hớ ra vài điểm quan trọng, chính chàng còn không biết nhưng Vô Phương đều nghe được rất rõ ràng. Phải có học vấn, phải biết hết chuyện thiên hạ, nghĩa là ai nhập thế cũng đều mang theo sứ mệnh cả!

Nàng rút tay về, chàng lại cứ nắm chặt không chịu buông, cuối cùng đành mặc kệ, “Bạch Chuẩn… Bạch Trạch… Ngài thuộc tộc Bạch Trạch* đúng không?”

(*Bạch Trạch là một loài linh vật trong thần thoại Trung Hoa và Á Đông. Tên “Bạch Trạch” mang nghĩa là “đầm lầy trắng”. Theo truyền thuyết, Hoàng Đế đã gặp Bạch trạch khi ông đang trên đường vi hành ở các vùng lãnh thổ phía Đông của mình. Khi gặp Hoàng Đế, Bạch trạch đã giới thiệu cho ông biết thông tin về 11.520 loài linh thú và quái vật trong tự nhiên cũng như cách phòng chống sự quấy nhiễu và xâm hại của chúng. Tất cả những chỉ dẫn này đều được ghi lại trong một tác phẩm gọi là Bạch trạch đồ.)

Lệnh chủ *ớ* lên, “Họ Bạch thì là Bạch Trạch sao? Bạch Trạch sống nghiêm túc lắm, ta không thích.”

Vô Phương cảm thấy lão yêu quái này đã đẩy trí tưởng tượng của nàng lên tới cực hạn, “Thế đang yên lành sao ngài lại mang họ Bạch?”

Chàng đáp: “Ta đặt đại thôi, hôm ta đến Phạn Hành Sát Thổ, mưa rơi cả ngày làm da chân ta nhăn lại trắng bệch, nên ta lấy họ Bạch luôn.”

Vô Phương bật cười, nghĩ lại thấy cũng phải, yêu quái bọn họ vốn không có dòng họ. Ví dụ như họ Diễm của nàng, đều là tùy duyên cả, nàng xoắn xuýt với họ của chàng làm gì, bây giờ không cần thiết.

Bọn họ chậm rãi đi về phía trước, rốt cuộc đoạn đường tối nhất Hoàng Tuyền cũng chấm dứt, sắc trời hơi ngả vàng như mùa mưa dầm mơ hồ lộ ra trước mặt. Vòm trời quang đãng không mây nhưng có loài chim quái dị vỗ cánh *phành phạch*, trông hết sức khí thế.

Tầm mắt đã sáng thì không còn lý do ôm nàng không buông nữa, Vô Phương chậm bước, chẳng nói gì mà chỉ đưa mắt nhìn lệnh chủ, ý bảo chàng xem lại hành động của mình.

Lệnh chủ bất đắc dĩ buông tay ra, hậm hực nói: “Nương tử chỗ nào cũng tốt, chỉ có tính khí quá xét nét là không hay. Ta thích nàng nên mới muốn kề cận nàng, thử đổi lại là A Trà xem, nhìn một cái ta cũng chả có hứng thú.”

Ly Khoan đi theo không xa không gần chợt bị gọi tên, mà lại còn bị làm ví dụ đối lập thì không khỏi thấy đau xót. Cậu ta nghiêng đầu kể khổ với Cù Như: “Tiểu điểu, mi xem đi, đây chính là chủ nhân ta theo mấy trăm năm đấy. Cứ tưởng nhiều năm sống chung như thế, quan hệ giữa hai ta đã vượt quá thứ bậc chủ tớ rồi, nhưng sau khi Yểm hậu xuất hiện, lệnh chủ lại đối xử với ta vậy đấy…”

Cù Như liếc cậu ta, “Lệnh chủ là của sư phụ ta, ta là của tất cả tượng nam ở Yểm Đô, ngươi chớ kể khổ với ta làm gì, ta không nghe đâu.”

Ly Khoan bĩu môi, “Mi nghĩ nhiều quá rồi, ta chỉ cảm khái cảnh ngộ của mình tí thôi.”

Cảnh ngộ này đã quyết định từ lúc bắt đầu rồi không phải sao? Cù Như tốt bụng chỉ điểm cho cậu ta, “Vì quan hệ của ngươi với lệnh chủ là chủ tớ, còn ta và linh y là thầy trò. Ngươi có biết điểm khởi đầu có ảnh hưởng lớn thế nào đến số mệnh tương lai không? Đời thường nói trọng sắc khinh bạn, ngay cả ‘bạn’ ngươi cũng chẳng phải thì còn muốn lệnh chủ đối xử thế nào với ngươi nữa?”

Ly Khoan Trà trợn mắt há hốc mồm, “Nghe lời vua nói còn hơn đọc sách mười năm. Từ lúc nào mà tiểu điểu mi trở nên uyên bác như vậy hả?”

Cù Như chẳng buồn nhìn cậu ta, “Đừng có đi gần ta thế, ta không muốn bị lây bệnh đần của ngươi đâu.” Nói rồi cô bé vừa chạy vừa bay đuổi theo Vô Phương.

Thăm dò phía trước, hình như đã tới sông Vong Xuyên rồi, cảnh trí dọc đường hơn hẳn Phạn Hành Sát Thổ. Hoa bỉ ngạn dệt nên con đường đỏ rực như lửa kéo dài đến đầu cầu Nại Hà, trước đá Tam Sinh bên bờ sông có cô hồn đi ngang qua rưng rưng ngẩng mặt trông lên, bao tình cảm nợ nần ở nhân gian đều được xóa bỏ trước đá Tam Sinh, đi qua quãng đường này là sẽ hoàn toàn cắt đứt với tiền kiếp.

Bọn họ chưa thực sự đến thế giới Sa Bà lần nào, lúc Vô Phương giáng thế thì cả thành chẳng còn lấy một người sống nào, thế nên nàng chẳng cách nào hiểu được hỉ nộ vui buồn của nhân gian. Những người Trung Âm mới đến nơi này sẽ đứng trên đài Vọng Hương, quay mặt về phía giới Tam Thiên khóc lóc sầu bi, lệnh chủ giải thích là vì họ thấy được quê hương, thấy được linh đường của mình.

Lệnh chủ nói xong liền ghét bỏ xoay người đi, “Làm người thật phiền toái, tuổi thọ ngắn ngủn có mấy chục năm mà lại quá bận rộn, hết con cháu rồi đến bằng hữu thân thích. Nhìn ta xem, mười nghìn tuổi mới bắt đầu bước vào cuộc sống hôn nhân, về sau không phải lo sinh ly tử biệt với nương tử, tốt biết bao nhiêu!”

Thế mới nói lão yêu chính là độc nhất vô nhị trong cả vạn, người khác có hâm mộ cũng không hâm mộ nổi.

Lúc đi ngàng qua, Cù Như quay đầu nhìn, “Bọn họ khóc cái gì vậy? Chết rồi có thể đầu thai tiếp mà, kiếp này làm ăn mày nhưng nói không chừng kiếp sau lên làm hoàng đế đấy.”

Ly Khoan Trà cười khẩy, “Mi tưởng dễ được làm hoàng đế lắm à, phải tích bao nhiêu công đức muôn đời mới được đấy. Bọn họ khóc là vì không biết thứ gì đang đợi mình, có lẽ không vào được nhân đạo mà phải vào súc sinh đạo làm heo chó cũng chưa biết chừng.”

Con đường rực lửa được rải đầy cánh hoa bỉ ngạn, khi bước đi vang lên tiếng *xào xạc*. Đây là con đường uốn theo hình cánh cung, trong bụi cỏ hai bên ẩn giấu rất nhiều kiếm kích nên chỉ có thể đi lại trên thềm đá cực hẹp. Chốc chốc lệnh chủ lại ngoái đầu dặn dò nương tử nhà mình phải cẩn thận, “Tên Minh quân này keo kiệt quá đi, làm đường nhỏ xíu, chân to chút là không đi được rồi.”

Băng qua cầu Nại Hà vốn không phải là con đường bằng phẳng, chẳng lẽ còn phải sửa thành đại lộ thênh thang đủ để tám người khiêng kiệu đi à?

Vô Phương giục chàng mau lên cầu, vừa đặt một chân lên thì nhìn thấy một lão già đeo tạp dề đang sắc nồi trà ở đầu cầu.

Cù Như *ồ* lên, “Thì ra Mạnh Bà là nam.”

Có lẽ do canh đã hết, đội ngũ xếp hàng lại dài thượt, mà người nào qua cầu cũng phải uống một chén canh trà để quên hết chuyện cũ kiếp trước, nếu cam tâm tình nguyện thì đương nhiên chờ một chút cũng chẳng có vấn đề gì. Nhưng vị sắc trà lại bận mướt mồ hôi, vẫy quạt lá trong tay đến nỗi hoa mắt, vừa vẫy vừa mắng: “Nồi nhỏ xíu rồi củi thiếu thốn, đưa ta thêm hai cái lò thì sẽ chết hả! Lại còn đang mùa xếp hàng đông, cứ thế này nữa ta bỏ việc mất…”

Đám người Trung Âm đều mang theo hàn khí, lại gần sẽ thấy cứ như ở gần tảng băng vậy. Lệnh chủ nắm tay Vô Phương, dẫn theo một chim một thằn lằn đi vòng qua. Mạnh Bà đang quạt khí thế, nhìn thấy bọn họ thì ngẩn người, đến khi nhận ra liền ném phăng quạt trong tay, vội vàng chạy tới…

“Lệnh chủ!” Lão già vuốt sừng trên đầu, cười cực lẳng lơ, “Tiểu quỷ làm ở nơi này đã sáu trăm năm, nhưng đây vẫn là lần đầu tiên thấy lệnh chủ đến cầu Nại Hà chơi đấy. Sao hôm nay ngài lại tới đây?” Nhìn sang mỹ nhân bên cạnh lệnh chủ, ông ta lập tức lộ vẻ mặt vỡ lẽ, “Ra là dẫn gia quyến đến Phong Đô chơi một hôm.”

Lệnh chủ nổi tiếng bốn phương, bình thường chỉ có người ta biết chàng chứ chàng không biết người ta. Hơn nữa vì để làm nổi bật hình tượng ‘kẻ ác không nhiều lời’, không buộc phải bắt chuyện với đám lâu la này thì chàng sẽ không làm, cho nên dẫn theo Ly Khoan Trà rất hữu dụng. Ly Khoan biết ý liền thay chàng tiến lên tiếp chuyện qua lại mấy câu rồi hỏi vì sao Mạnh Bà lại là nam, cầu Nại Hà còn cách Phong Đô xa không.

Đúng lúc này Vô Phương nhìn xuống dưới cầu, thấy có một nữ nhân lăn lộn trong dòng bùn cuồn cuộn nhưng vẫn kiên quyết ngẩng đầu nhìn lên cầu. Vì ngâm bùn quanh năm nên mặt cô ta đã mất đi sắc màu thanh xuân, chỉ còn lại vẻ u sầu thê lương. Đã xuống đây mà không muốn uống canh Mạnh Bà thì phải chấp nhận trải qua một nghìn năm khổ ải ở dưới sông Vong Xuyên.

Vô Phương cẩn thận đánh giá tướng mạo nữ quỷ, dường như có hơi xấu hổ, cô ta ngượng ngùng quay mặt đi. Nhưng nàng lại nghĩ, một người đã từng có thể xác lại chấp nhập trải qua nghìn năm đằng đẵng ở nơi vẩn đục thế này, nếu đổi lại là nàng, có lẽ không có được sự bền bỉ kiên trì như vậy đâu.

Lệnh chủ nhìn theo tầm mắt nàng, biết nàng lại động lòng trắc ẩn thì chậc lưỡi, “Cô nương này đúng là cứng đầu, chuyện lớn thế nào mà chết cũng không bỏ được nhỉ.”

Mạnh Bà lập tức đi lên giải đáp: “Cô ta cũng khá đáng thương, lúc còn sống bán đậu hủ nuôi trúc mã lên kinh đi thi, nhưng người ta thi đậu Trạng Nguyên xong lại kết duyên với công chúa, giường cao chăn mềm hưởng thụ vinh hoa phú quý, còn cô ta đợi ở bến sông cả đời, đến chết vẫn không đợi được tình lang của mình. Hôm cô ta qua cầu Nại Hà là ngày đầu tiên ta nhận công tác, ta khuyên cô ta uống canh trà để đặt dấu chấm hết với đời trước, song cô ta lại không muốn, chấp nhận chịu khổ trong sông Vong Xuyên nghìn năm để nối lại tiền duyên. Mấy năm qua cô ta nhìn tình lang của mình đi qua cầu đã sáu bảy lần, nhưng lần nào thằng nhãi kia cũng chẳng do dự uống cạn canh Mạnh Bà. Hỏi cô ta có hối hận không, cô ta lại đáp thằng đó uống canh cũng tốt, vì cô ta không đành lòng để gã chịu nỗi khổ nghìn năm trong sông.”

Kẻ bạc tình phần lớn đều là người có ăn học thôi, Vô Phương vô cùng thương cảm. Lệnh chủ thấy thế thì chen vào khoe: “Ta không phải hạng đó đâu.” Song chàng vẫn bị nàng giật tay ra.

Phần lớn nam giới đều chẳng kẻ nào tốt đẹp.

Lệnh chủ rất buồn rầu, mình có làm gì đâu mà bị ăn mắng chứ. Chàng nhìn nữ quỷ dưới cầu rồi nhìn đội ngũ xếp hàng, “Hôm nay lại là ngày tên người phàm đó qua cầu hả?”

Mệnh Bà đáp phải, giơ tay ra chỉ, “Chính là tên mặt trắng đó.”

Lệnh chủ cười nhạt, lúc Vô Phương còn đang mãi nghĩ xem làm sao để giải thoát giúp cô gái kia thì chàng đã kéo tên mặt trắng kia ném thẳng xuống sông.

*Ùm* một tiếng, nước sông Vong Xuyên bắn cao mấy trượng, đám người Trung Âm trên cầu sợ đến kinh hồn bạt vía, song Mạnh Bà lại vỗ tay cười to, “Quá đã quá đã… Tiểu quỷ đã muốn làm thế từ lâu rồi.”

Lệnh chủ sán tới gần hôn thê ngọt ngào bảo: “Cho bọn họ thành đôi rồi đấy, nàng xem bọn họ vui vẻ biết bao, tên quỷ nam kia cười tới mức rớt cả cằm kìa.”

Vô Phương thò đầu xuống nhìn, rõ ràng là khóc lóc tới rớt cả cằm thì đúng hơn. Nữ quỷ im lặng ở bên cạnh nhìn, nhìn tới nhìn lui… có lẽ vào bây giờ mới nhận ra gã này vừa ích kỷ vừa ồn ào. Do dự một hồi, cô ta nở nụ cười tiếc nuối rồi đưa tay đè đầu gã xuống mặt sông lạnh như băng.

Kết cục buồn, lãng phí hơn sáu trăm năm mới nghiệm ra chân tướng, sáu trăm năm với con người khá dài đấy. Lệnh chủ thấy rất hài lòng, nếu không nhờ chàng giải quyết nhanh chóng, nữ quỷ kia đợi hẳn một nghìn năm rồi sao, còn không phải vẫn đau đớn thắt ruột thắt gan với gã thư sinh đang vùng vẫy kia sao.

“Nhân duyên tốt đâu dễ tới, nữ quỷ tuy si tình nhưng tiếc là số cô ta xấu, không đợi được nam nhân như ta.” Lúc đi xuống cầu Nại Hà, lệnh chủ vẫn còn đang tự khen mình.

Cầu Nại Hà chính là cửa ải trước khi vào Âm Ti, qua khỏi cầu là địa phận của thành Phong Đô tự do phát triển. Vô Phương dõi mắt nhìn về nơi xa, một tòa cung điện khổng lồ tọa lạc trên vùng đất mênh mông trùng điệp màu đỏ của hoa bỉ ngạn, từ rất xa vẫn có thể nhận thấy quy mô đồ sộ của nó. Tối tăm hơn song cũng khoáng đạt hơn, đây chính là cảm giác đầu tiên Phong Đô đem đến cho nàng. Ngọn đèn tù mù là chỉ dẫn duy nhất trong màn đêm, nàng gọi Cù Như rồi rảo bước đi nhanh về phía đó.

Lệnh chủ bảo nàng đi chậm thôi, “Nàng sợ bọn họ không đến chào đón à?” Sau đó chàng cố ý lớn tiếng thở dài, “Nam tử một lòng như ta đây, Diễm cô nương mãi không quý trọng thì sau này sẽ hối hận đấy.”

Ai ngờ lời buột miệng lại đổi lấy sự giễu cợt vô tình từ nàng, “Ngài bảo mình một lòng, vậy trong mười sáu thành Ô Kim có thành nào ngài không để lại sính lễ không? Hôm nay ngài quấn lấy ta, chẳng qua vì ta là người đầu tiên động tới đầu thương, nếu đổi thành người khác thì ngài vẫn một lòng một dạ với người ta như vậy?” Nàng phồng má hừ lạnh khinh miệt: “Bạch Chuẩn, ta không bóc trần khiếm khuyết của ngài, ngài không biết thân biết phận mà còn ở đó tự khen mình, mặt mũi của ngài đâu rồi hả? À, ta quên mất, ngài vốn không có mặt, ngài là một lão yêu quái không cần mặt mũi.”

Bị một tràn mắng chửi trút xuống đầu, lệnh chủ choáng váng đến nỗi đơ ra. Ly Khoan Trà thương cảm nói: “Rốt cuộc Yểm hậu cũng tức giận, chuyện chúa thượng đã làm quả thật không phúc hậu tí nào.”

Lệnh chủ chọn kết hôn theo thiên ý là vì chàng theo chủ nghĩa tùy duyên, nhưng ngẫm kỹ lại thì lời nàng nói đúng là có lý.

“Nếu đổi thành nữ nhân khác, có thể ta cũng đối xử như người nhà vậy, nhưng người ta sẽ không có khó khăn như nàng đâu.” Chàng uất ức lẩm bẩm, “Hơn nữa hôn ước đã định rồi, nào có đạo lý đào bới xem xét lại chứ, dù sao bây giờ ta cũng chỉ yêu một mình nàng.”

Thật ra chuyện này phải xét cả hai mặt, nếu nàng không quan tâm chàng, hà cớ lại tức giận như vậy? Nghĩ thế lòng tin của lệnh chủ bỗng quay lại, chàng nắm lấy Ly Khoan lắc lắc, “A Trà, nàng cũng yêu ta, ngươi biết không?”

Ly Khoan Trà bị lắc tới độ chóng mặt, “Tốt quá rồi… Vậy còn mười lăm sính lễ kia thì sao ạ, chúa thượng lấy về chưa?”

Lệnh chủ sững sờ, “Chẳng phải ta đã giao cho ngươi xử lý chuyện này rồi ư?”

Ly Khoan trợn tròn mắt hỏi ngược lại: “Chúa thượng có dặn thuộc hạ ư?”

Làm sao đây, lệnh chủ khóc không ra nước mắt, hình như quên mất rồi. Có điều không sao, sau mấy nghìn năm mới xuất hiện Vô Phương, để thêm hai ngày nữa chắc cũng không có gì đáng ngại.

Lúc lệnh chủ và Ly Khoan đang âm thầm bàn bạc thì nghe thấy nàng cất giọng gọi chàng. Chàng hớn hở chạy đến, nàng bảo ‘ngài nhìn đi’ rồi chỉ vào đám bụi mù cuồn cuộn ở đằng xa, “Ta nghe thấy tiếng vó ngựa, chắc là Minh quân ra khỏi thành nghênh đón.”

Lệnh chủ nghĩ thế này không được, đối phương phô trương quá, mình không thể kém được. Thế là chàng bấm quyết, trong phút chốc trên vùng đất trống trải xuất hiện cả đống nghi trượng*, sau đó chàng kéo Vô Phương ngồi vào cỗ kiệu lớn cỡ bốn mươi tám người khiêng, quàng tay qua vai nàng, “Tên Minh quân kia thích nhất là ra oai, mà bổn đại vương cũng chẳng ăn chay. Nương tử mau ôm ta đi, như thế ta mới có thể diện.”

(*Nghi trượng: vũ khí, quạt, dù, cờ… mà đội hộ vệ mang theo khi vua, quan lại đi tuần hành thời xưa.)

Mới đầu Vô Phương không vui, khó chịu đẩy chàng ra. Song đội ngũ Phong Đô càng lúc càng gần, nàng đành phải lấy đại cuộc làm trọng, miễn cưỡng tựa vào trong khuỷu tay chàng.

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.