Khúc Cầu Hồn

Chương 17: Chương 17: Chương 16




Đồn cảnh sát nằm trong một đường nhỏ ở trên phố. Cao ốc hai tầng, gạch đỏ, tiện dụng. Hunt lao vào trong đồn và tìm thấy Yoakum trên tầng hai, đang cúi xuống trên một tấm bản đồ thành phố. “Nói tôi biết,” Hunt nói.

“Vân tay rất rõ ràng. Levi Freemantle. Bốn mươi ba tuổi. Da đen. Cao gần hai mét. Nặng hơn một tạ.”

“Tổ cha. Tôi cứ tưởng anh nhóc đó phóng đại.”

“Không đâu. Gã này to lớn thật.”

“Cái tên đó dường như quen thuộc lắm?”

“Freemantle à?” Yoakum dựa người vào ghế. “Chưa bao giờ tôi nghe cái tên đó.”

“Chúng ta có hình ảnh gì không?”

“Từ nha lộ vận thì không. Hắn không có bằng lái xe. Không có thẻ tín dụng hoặc trương mục ngân hàng. Tôi không tìm được gì.”

“David Wilson bị ép tung xuống cầu bởi một chiếc xe ô tô.”

“Có thể hắn ta có bằng lái xe từ một tiểu bang khác. Có thể hắn ta cóc cần.”

“Chúng ta còn biết gì khác nữa?” Hunt hỏi.

Yoakum lục lọi soạn đống giấy tờ. “Hắn ta xuất hiện trên màn ảnh radar cách đây vài năm. Trước đó không có gì. Chưa từng bị bắt. Không hồ sơ nhà băng hoặc điện nước hoặc dịch vụ điện thoại. Gã này là ma. Rất có thể gã mới dạt tới đây từ vùng khác. Từ ngày đó, trong hồ sơ cho thấy gã nhiều lần bị bắt, vài lần bị kết án. Gã từng ở tù, nhưng không gì hệ trọng. Một tháng ở đây. Hai tháng ở kia. Nhưng nghe này, gã vừa bỏ trốn khỏi nhóm lao động công ích hồi tuần rồi.”

“Gã ta là tù trốn trại sao? Tại sao tôi chưa hề hay biết về chuyện này?”

“Nó được đăng trên nhật báo hồi tuần rồi, nhưng tít tận ở trang số chín. Gã ta thuộc diện ưu tiên thấp, thành phần tội phạm không hung tợn. Không bị liệt vào hạng nguy hiểm. Hơn nữa, nó là vấn đề của quận hạt.”

“Loại lao động công ích gì vậy?”

“An ninh tối thiểu. Làm việc kiều lộ trên con đường hai làn xe chạy ở vùng đồng quê. Nhặt rác. Tỉa cỏ dại. Gã ta bỏ trốn vào trong rừng.”

“Khó tin nhỉ.”

Yoakum cười, hàm răng của ông rất mịn và trắng như được sơn. “Ông có sẵn sàng nghe tin tức chấn động chưa?”

“Chuyện gì?”

“Gã từng ngồi tù, đúng không? Đúng. Vào tù ra khám. Nghe rõ này. Gã được tha tù về một tội khác từ địa phận khác chỉ ba ngày trước khi Alyssa Merrimon bị bắt cóc.”

Hunt linh cảm thấy một cây đinh kích động. “Đừng có giỡn với tôi, Yoakum.”

“Chúng tôi có địa chỉ. Ở địa phương này.”

“Còn trát xét nhà thì sao?”

“Tôi đã cử Cross đến đánh thức thẩm phán dậy.”

“Ông thẩm phán đã ký tờ trát xét nhà chưa?”

“Ông ta sẽ làm.”

“Ông có chắc không?”

“Cô bé người da trắng. Bố mẹ cô ấy giàu có.” Yoakum nhún vai. “Chỉ là vấn đề thời gian.”

Hunt nhìn xung quanh phòng, định loại từng khuôn mặt. “Không được, Yoakum. Ông không thể nói những chuyện như vậy được. Mình đã bàn về chuyện này.”

Yoakum vươn hai vai, và giọng ông ta hằn học một cách ngạc nhiên. “Cái thế giới này nó là như vậy đó, bất công, bi thảm và đầy những tiếng gào thét xấu hổ. Đừng có ghét bỏ gì tôi về những chuyện đó.”

“Một ngày nào đó cái mồm của ông sẽ gây khó khăn cho ông đấy. Cho nên cố mà giữ cho những thứ rác rưởi đó khóa chặt.”

Yoakum thổi vỡ bong bóng kẹo cao su trong mồm và nhìn đi chỗ khác. Hunt bắt đầu duyệt những thông tin họ thu thập được. Levi Freemantle cư ngụ ở đường Huron với Ronda Jeffries, một phụ nữ da trắng, ba mươi hai tuổi. Hunt gõ tên bà ta vào máy. Bị bắt hai lần vì có hành vi bán dâm. Không bị kết án. Một lần bị bắt vì tàng trữ thuốc phiện loại A. Bị thụ án tù bảy tháng cho án mười tám tháng. Hạnh kiểm tốt. Một lần kết án tù vì tội công xúc tu sỉ. Hành hung. “Ronda Jeffries,” Hunt nói, “bà ấy có quan hệ gì với gã Freemantle?”

“Chúng ta chỉ biết họ cư ngụ cùng địa chỉ. Có thể người ở chung nhà. Có thể hơn thế nữa.”

Hunt nghiên cứu tờ giấy ghi những lần bị bắt của Levi Freemantle. Nó dường như chưa hoàn tất. “Đó là những bắt bớ tào lao. Xâm phạm gia cư. Lảng vảng. Ăn cắp siêu thị, lạy Chúa tôi. Không có bạo hành. Không có tình dục.”

“Nó có sao thì là vậy.”

Tờ giấy nhìn giống như hàng trăm tờ giấy khác, một cách mơ hồ, Hunt cảm tưởng như ông biết gã ta, như ông biết hàng ngàn kẻ như thế; nhưng cao gần hai mét và nặng hơn một tạ không phải là thứ dễ quên. Ông kiểm tra lại ngày tháng và xác minh Levi Freemantle được phóng thích khỏi nhà tù ba ngày trước khi Alyssa Merrimon bị bắt cóc. Gã bỏ trốn khỏi đội lao động đường phố một tuần trước khi Tiffany Shore mất tích. Nếu nó là sự trùng hợp, phải là trường hợp rất hy hữu. Sau đó thì David Wilson bị giết - người cho rằng đã tìm được cô bé bị bắt cóc. Vân tay của Freemantle có ở trên tử thi. Những gì Johnny nói đều trùng hợp. Yếu tố thời gian. Thế cong của con sông. Hunt đặt tờ giấy xuống. “Gọi Cross. Hỏi xem mọi chuyện thế nào.”

“Ông ta biết rõ những gì phải làm.”

“Gọi điện cho ông ta, John.”

Yoakum bấm máy gọi Cross và hỏi bao lâu nữa mới lấy được trát xét nhà. Khi gác máy, giọng ông ta xìu xuống. “Ông ta nói không biết. Ông thẩm phán sẽ không chịu để bị hối thúc.”

“Tổ cha.” Hunt đứng phắt dậy. “Hãy đi đến đó trước đã.”

Yoakum chụp vội cái áo khoác và choàng vội vào người khi ông tất tả chạy theo sau Hunt. “Tụi mình sẽ không xông vào nhà khi chưa có trát xét nhà chứ hả?”

“Làm chuyện đó chỉ chứng tỏ sự ngu xuẩn.”

“Đó không phải câu trả lời.”

Hunt bỏ mặc làm ngơ, bước chân dậm to vang trên bậc thang cứng, thô nhám đi xuống dưới. Yoakum nói lớn hơn. “Tổ cha, Clyde, cái đó không phải câu trả lời.”

Ñường Huron là con đường quặt trái từ con đường chính, và chấm dứt ở phía bên đường ray xe hỏa ngược từ quảng trường thành phố. Vùng đất này của thị trấn nằm gần cạnh đầu của những đồi cát; bạn có thể biết như vậy qua nhiệt độ và cây cỏ. Cát giữ nhiệt độ, làm cho không khí nóng hơn. Cây cối phát triển chậm trên vùng thổ nhưỡng yếu. Con đường chật hẹp và ngắn, với nhiều sân nhà đầy cỏ dại và cát bụi và những con chó cột vào xích sắt to tướng. Hunt biết rất rõ cần phải cẩn thận. Hai năm trước đây, ông giải quyết hiện trường một vụ án mạng ba dãy phố từ đường cái: một phụ nữ bị đâm thiệt mạng ở trong bồn tắm nhà bà. Chuyện vỡ lẽ ra con trai bà ta là thủ phạm vì bà từ chối không cho hắn vay tiền. Bà ta bị thiệt mạng vì năm mươi đồng.

Những con người đáng gờm.

Một con đường đáng sợ.

Hunt dạt xe về bên trái và chạy chậm từ căn nhà thứ hai. Ông tắt đèn pha, lướt nhẹ qua những mảnh chai vỡ, và dừng lại. Con đường kéo dài ra, con sông đen ngòm, hàng rào chắn bạc chấm dứt sự nghèo khổ và dẫn đến nhiều nơi đời sống khá hơn. Một khe sáng hẹp màu xanh thoát ra từ rèm cửa căn nhà phía bên trái. Tiếng dế rỉ rích gáy trong đám cỏ dại.

“Đây là ý kiến dại dột,” Yoakum nói.

Hunt hất hàm. “Dãy nhà cuối cùng. Phía bên phải.”

Yoakum quay ra nhìn. Hai môi bặm chặt khi ông dõi mắt nhìn xuống đoạn đường tối om.

“Lạy Chúa.”

Hunt cũng nghiên cứu con đường. Ông thấy những sân nhà với những con đường đất mòn chạy từ hàng hiên ra đến đường lộ, một miếng nệm vứt ở lề đường, mấy chiếc ghế sô pha xếp ở hàng hiên. Những chiếc xe ô tô hư hỏng được kê cao trên những tảng đá cục. Ngay cả bầu trời trên cao dường như cũng nặng nề hơn.

Ở hai nhà phía dưới, con chó ngao chạy hùng hục từ bên hông nhà này sang bên hông nhà kia và trực diện khiêu chiến ở khúc cuối sợi xích.

“Sao mà tôi chán ghét cái trò này thế!” Yoakum nói.

“Hãy đi sâu xuống dưới một tí.”

“Tại sao?”

“Tôi muốn thấy liệu có xe đậu ở nhà gã Freemantle không. Hay là có đèn thắp sáng.”

Hunt vẫn giữ đèn pha tắt tối om và gài số chiếc xe. Họ lăn bánh thêm khoảng sáu mét và con chó ngao không còn hùng hục rượt đuổi. Yoakum tựa lưng vào thành ghế ngồi. “Chơi dại,” ông nói, và con chó phóng người hết sợi dây xích cột cổ, sủa vang trời, khạc nọc độc với sự giận dữ tưởng chừng như nó đang ở trong xe. Hàng chục sợi dây xích khua vang cả dãy phố khi những con chó khác cùng sủa um lên. Đèn vụt bật sáng ở hai căn nhà.

“Chơi dại,” Hunt đồng ý, và cài số de. Ông de quặt vòng quanh góc đường và chuyển qua số tới.

Sau một phút yên lặng, Yoakum nói: “Nó có thể là vấn đề.”

“Đám chó à?”

“Chúng nghe thấy chúng ta tiến đến từ cách đây bốn

dãy phố.”

Hunt nhìn đồng hồ. “Có thể không.”

“Sao lại không?”

“Tin tôi đi.”

Yoakum nhìn ra ngoài cửa kính. Hunt lấy điện thoại bấm số gọi Cross, và ông ta trả lời ngay tiếng chuông đầu tiên. “Tôi cần cái trát xét nhà đó,” Hunt nói. “Tôi cần nó trong hai mươi phút nữa.”

“Tại cái ông thẩm phán này.” Sự bực bội của Cross hiện rõ. “Ông ta đọc kỹ lại tờ bản khai xin trát tới lần thứ ba.”

“Cái gì? Bản khai đó rõ ràng như pha lê. Trong đó là lý do chính đáng viết đi viết lại đầy đủ. Tạo áp lực lên ông ấy đi.”

“Tôi đã cố gắng rồi.”

“Ông thẩm phán nào đó?” Hunt hỏi, và Cross nói cho ông ấy rõ. “Đưa điện thoại cho ông ấy.”

“Ông ta sẽ không nói chuyện.”

“Ông làm đi.”

Hunt chờ. Yoakum nhìn ngang. “Ông đang gây áp lực lên ông thẩm phán đó à?”

“Tôi sẽ đe dọa gã ta.”

Thẩm phán lên tiếng trên đường dây. “Chuyện này không thích đáng, thám tử.”

“Bản khai xin ban hành trát toà có những vấn đề gì không?” Hunt hỏi.

“Tôi đã có tờ khai của ông, và tôi sẽ đưa ra phán quyết một khi tôi có đủ cơ hội... ”

Hunt ngắt lời thẩm phán. “Đứa trẻ mười hai tuổi bị thảm sát trong khi thẩm phán đùa cợt về việc ban hành trát xét nhà. Đó sẽ là tít lớn trên tờ nhật báo nếu chúng ta quá trễ. Tôi có những chỗ quen biết với toà soạn, những người còn mang nợ ân oán. Chắc chắn tôi sẽ nhớ điều đó.”

“Ông sẽ không dám làm chuyện đó.”

“Có ngon thì cứ thử.”

Ba mươi phút sau, cảnh sát tập trung ở một bãi đậu xe trống sau lưng một nhà băng địa phương. Họ có trát toà xét nhà. Lúc đó là 3:10 sáng, trời tối sầm và yên lặng. Trên đầu, ngọn đèn đường chớp tách và cháy rực lên, sau đó cháy ngúm với tiếng cắc nghe rõ. Năm ông cớm, sáu nếu tính luôn cả Hunt. Ông trùm chiếc áo vest qua đầu, vuốt dây dính Velcro vào đúng vị trí và kiểm tra vũ khí lần thứ hai. Yoakum gặp ông ở phía đằng sau chiếc xe tải xanh sậm màu với huy hiệu nhỏ màu vàng trên cửa sau. “Ông sẵn sàng chưa?”

Yoakum vẻ mặt lo lắng. “Chúng ta nên chờ.”

“Không.”

“Xông vào trong bóng tối là mạo hiểm một cách không cần thiết. Nhà lạ, đường phố bất ổn. Gã sẽ nghe tiếng chó sủa khi chúng ta còn cách xa bốn dãy phố.”

“Chúng ta phải di chuyển ngay bây giờ.”

Yoakum lắc đầu. “Ông sẽ khiến cho ông em bị thiệt hại.”

“Bất cứ ai có mặt ở đây đều hiểu họ ký giấy tình nguyện cho cái gì. Đây không phải là trò chơi Hướng Đạo.”

“Và đây không phải một ông thẩm phán cù lần nào chọc ghẹo gì ông. Đây là đường phố. Đây là việc ông đặt cớm giỏi vào tình thế nguy hiểm, trong khi chờ thêm một vài tiếng đồng hồ có thể là một thế giới khác biệt. Cảnh sát trưởng đang tìm kiếm một lý do nào đó để gây khó dễ cho ông, và làm cho ai đó bị thương tật là món quà tốt nhất ông có thể trao cho ông ấy.”

“Hãy thông minh, Clyde. Chỉ một lần thôi. Phải thực tế, suy nghĩ kỹ lưỡng.”

Hunt chộp lấy cánh tay bạn mình. Ông bóp thật chặt và khiến Yoakum đau thấu xương. “Nếu đây là con gái của ông thì sao? Em gái ông? Đó là viễn cảnh, và ông cần phải nghĩ đến chuyện đó.”

Hunt buông cánh tay và cố gắng quay đi hướng khác, nhưng Yoakum cũng chưa xong.

“Ông đang làm việc bằng cảm tính.”

Hunt nhìn kỹ ông bạn mình, hai mắt đen ngòm trong trời đêm, mặt nhợt nhạt và hàm răng nghiến chặt. “Đừng chống lại tôi trong vấn đề này, John. Tôi sẽ tìm được cô bé và thấy cô ấy còn sống.”

“Ông sẽ phải chịu trách nhiệm nếu ai đó bị thương tích gì.”

“Và ông phải chịu nếu cô bé thiệt mạng trong khi chúng ta đang nhởn nhơ tào lao ở cái bãi đậu xe này. Bây giờ, ông xong chưa?”

Bộ dạng Yoakum dịu lại. Ông bẻ những đốt ngón tay và gật đầu. “Tôi mệt mỏi hết muốn nói chuyện rồi.”

Hunt búng tay và những cảnh sát khác đứng tụ lại thành một vòng tròn: Yoakum, Cross, và ba người mặc đồng phục trang bị đầy đủ áo giáp. “Đây là nhân vật chúng ta muốn.” Ông đưa lên bản sao của tấm hình Levi lúc bị bắt lấy ra từ hồ sơ cũ. “Gã ta có vết thẹo kinh hãi phía bên phải mặt. Cậu bé nhận diện gã nói là nó nhìn như chảy xệ xuống, như sáp. Gã ta cao gần hai mét và nặng hơn một tạ. Tôi không nghĩ mình sẽ tìm thấy nhiều người với thông số trên, cho nên mọi chuyện cũng sẽ dễ dàng.”

Một vài giọng cười lo lắng. Hunt để họ tự nhiên. “Căn nhà nằm ở dãy phố cuối cùng trước đường ray, cuối cùng phía bên phải. Nó cách đường lộ với mảnh đất trống đằng sau, một bên là đường ray, phía bên kia là một căn nhà khác. Tôi muốn cả ba phía được trông chừng trước khi chúng ta xông vào bên trong. Những ngọn đèn đường phần lớn bị đập phá, cho nên trời rất tối. Sân vườn toàn là cỏ chết và đất phẳng, ngoại trừ những nơi có rễ cây và rác rưởi. Cho nên cẩn thận khi bước. Khi chiếc xe tải dừng lại, Yoakum ra quân trước. Ông ta sẽ mang theo hai người.” Hunt chỉ hai cảnh sát mặc đồng phục. “Các anh sẽ trông chừng đằng sau và bên hông nhà trong trường hợp gã ta tháo chạy. Tôi sẽ chỉ huy tất cả còn lại và xông vào từ phía cửa trước. Cross sẽ thủ cây búa tạ, nhưng tôi sẽ là người đầu tiên xông vào. Gã này rất to lớn, do vậy không nên gây náo loạn hàng ngũ. Vây bắt hắn và bắt thật nhanh chóng. Cô bé có thể đang bị nhốt ở đâu đó, cho nên phải kiềm chế khai hỏa. Chúng ta cần bắt sống hắn và chúng ta cần hắn nói chuyện.”

”Những con chó thì sao?” Yoakum ngắt lời.

Hunt nhìn đồng hồ đeo tay. “Thây kệ chúng.” Ông mở cửa sau xe tải; một viên cảnh sát mặc đồng phục cầm tay lái. Bên trong xe tỏa ra mùi dầu súng và mồ hôi. Những gã đàn ông ngồi vai sát vai. “Tôi ghét cái trò này,” Yoakum nói, và hai cảnh sát mặc đồng phục cười.

Yoakum luôn nói như vậy.

Động cơ nổ máy và chiếc xe quay tròn trong một bán kính hẹp trước khi đổ ra đường không một bóng người. Qua cửa sổ đằng sau xe, mặt đường cái bóng bẩy và đen tuyền, nhìn như gương nham thạch. Hunt nói với tài xế. “Ngừng xe một dãy phố trước khúc cua. Có một cửa hiệu tạp hóa. Nó đóng cửa.”

Chín mươi giây sau, chiếc xe tải lăn bánh vào bãi đậu xe không một bóng người và lồng lộn dừng bánh cách cái thùng rác rỉ sét khoảng hơn ba mét. Hunt nhìn đồng hồ. “Ba phút nữa.”

“Tại sao phải chờ?” Yoakum hỏi.

Hunt làm ngơ câu hỏi. “Ba phút.”

Những ngón tay siết chặt rồi buông thõng. Những người đàn ông ngó nhìn giày của họ. Cross sờ soạng ngón tay trên cây búa tạ. “Đúng giờ,” Hunt nói. “Tránh đường để tôi đi.”

Cross gật đầu. Hai phút sau, Yoakum thúc khuỷ tay. “Nhạc điên loạn, hử?”

“Bây giờ không, Yoakum.” Thêm một phút trôi qua. Dấu hiệu đầu tiên của đoàn tàu hỏa sắp đến như cơn thủy triều, sau đó tiếng bé dần.

“Ông có cảm thấy không?” Yoakum hỏi.

Hunt nhìn xung quanh khoảng không gian tối mù. “Ta sẽ đi.” Ông đập nhẹ tay lên vai người tài xế. “Khi tôi nói.”

Tài xế gật đầu, không khí trời đêm bắt đầu căng phồng lên. Tiếng ầm ầm tiến đến từ hướng nam, rồi rõ rệt hơn, to lớn hơn. Sự rung chuyển leo nhanh lên thành một âm thanh kinh động, và khi còi tàu hú vang trời, một người trong đám đàn ông đó co giật.

“Ông quả là một thiên tài,” Yoakum nói.

Hunt đặt một tay lên vai tài xế. “Đi thôi.”

Chiếc xe lao nhanh ra khỏi bãi đậu, rẽ trái và quẹo một lần nữa, đâm vào đúng trung tâm đường Huron và xé gió lao xuống cuối con đường khi lũ chó chồm đến trước, tru tréo sủa và mắc nghẹn trong những sợi xích cổ nghiến cứng. Rồi họ có mặt ở đó. Hunt thấy một chiếc xe đậu trên đường dẫn vào nhà, một cửa sổ có ánh đèn bên trong. Chiếc xe tải lồng lộn dừng lại. Cửa xe mở rộng và cảnh sát xuất hiện đầy trên đường. Yoakum và lính của ông ta chạy tủa ra hai bên hông nhà, vũ khí sẵn sàng, những đôi ủng đen chìm lẫn trong màu đất tối khiến họ tưởng chừng như đang lơ lửng.

Cách xa hơn chín mét, đoàn tàu xe hỏa xé qua màn đêm, tiếng động kinh hoàng rung chuyển trời đất. Hunt chờ tài xế một giây để theo đuổi kịp, cảm thấy không khí xé rách cuống họng khi ông ra sức chạy. Cross xuất hiện ngay cạnh ông, họ chạy một quãng dài qua khỏi sân trước, ngốn hết đất cát và cỏ chết cho đến khi nền hiên trước nhà lún xuống vì sức nặng của họ. Hunt chỉ vào khoảng không gian giữa khoá cửa và khung cửa, rồi lùi lại, một tay cầm đèn pin, tay kia cầm vũ khí. Ông gật đầu một lần và không hề nghe tiếng búa tạ ra đòn. Nó mở tung cánh cửa với vụn gỗ sấy khô bắn tung toé và mảnh kim loại loé sáng, tơi tả. Đoàn tàu lao nhanh phóng qua, mang theo lực hút chân không và những tiếng lách cách nhỏ dần; đoạn, Hunt đi vào bên trong.

Bên trong, một ngọn đèn cháy sáng trên đầu một cái ghế rách nệm; ánh sáng trắng từ chiếc đèn neon hắt ra từ cuối hành lang. Hunt kiểm tra bên phải, rồi xoay súng hướng qua bên trái. Lỗ hổng trong tường đánh dấu những phòng tối đen và những ụ đồ nội thất. Một cái gì rít phía bên trái, tiếng lạo xạo từ loa phát thanh, tiếng thầm thập của cây kim ở vòng cuối đường rãnh dài. Hunt bước qua một bên và Cross tiến lên phía trước, theo sau là người tài xế. Trong phòng nóng bức và chật hẹp. Những cái bóng nhảy múa trên bức tường màu thuốc lá nhưng không có gì khác chuyển dịch.

Mùi dầu cháy xộc đầy vào xoang mũi Hunt. Cross bắt gặp ánh mắt của ông khi người tài xế nhăn nhó hai lần và chôn chặt mũi của ông ta vào khúc gập của cánh tay. “Bình tĩnh,” Hunt nói gió, rồi chỉ vào căn phòng tối đen phía bên tay trái và hướng các cảnh sát khác về hướng đó. Hunt vung đèn vào hành lang chật hẹp, kiểm tra bước chân của ông ở cánh cửa, sau đó bước vào một khoảng tối mù. Không gian chật hẹp và tạo cảm giác dài hơn. Phía đằng trước, cạnh sắc của ngọn đèn trắng cắt một hình tam giác trên tấm thảm. Hunt kêu to:

”Cảnh sát đây. Chúng tôi có án lệnh xét nhà.”

Yên lặng. Bất động. Hunt di chuyển xuống dưới hành lang và rẽ vào nhà bếp phía bên phải. Một bóng đèn trắng dài nhấp nháy trên một chậu rửa đầy chén đĩa. Ông kiểm tra căn phòng, thấy một chai rượu cạn sạch, và một cánh cửa sổ mở với lưới bị rách. Ông quay lưng, di chuyển sâu hơn vào căn phòng, và thấy máu văng vãi trên bức tường thạch cao. Ông bước qua cánh cửa mở, quét đèn pin vào căn phòng, và một rừng ruồi tung bay toán loạn khỏi các thi thể.

Người đàn bà da trắng, ở độ tuổi vào khoảng ba mươi, có thể là Ronda Jeffries. Khó mà nói chính xác vì phần lớn khuôn mặt cô ta đã biến mất. Cô ta mặc bộ quần áo lót mỏng đóng vảy vì máu. Một bên vú lộ ra bên ngoài, làn da xám nhiều hơn trắng. Mặt của cô ta bị nát vụn, quai hàm bị gãy ở hai hoặc nhiều nơi, mắt bên trái bị sưng phồng khi văng ra khỏi hốc mắt gẫy vụn. Mình cô ta nằm vắt dài hướng về phía hành lang, hai chân gần giường ngủ. Một tay bẻ góc qua đầu, và cánh tay đó có hai ngón rõ ràng bị gẫy.

Thi thể người đàn ông da đen thì không bị biến dạng kinh dị. Khi còn sống hắn ta phải là người to lớn; nhưng bây giờ thì không. Bây giờ hắn ta bị rút nhỏ đi. Khí ém trương phồng bao tử hắn, làm cho hai tay và chân nhìn nhỏ bé khác thường. Đầu hắn ta cong về phía bên phải, làm khuôn mặt chùng xuống, tướng mạo không hoàn chỉnh. Hắn ta trần truồng, gục người trong một chiếc ghế to xù như thể đơn giản hắn ta chỉ muốn ngồi.

Hunt với tay vào công tắc trên tường và bật sáng đèn trên trần nhà. Ánh sáng khiến cho mọi thứ nhìn kinh dị hơn, cảnh tượng kinh khủng này hoàn hảo hơn. Hunt thấy cảnh sát đang theo vào phía sau ông. “Không ai được vào,” Hunt nói.

Ông quỳ gối bên cạnh người đàn bà, cẩn thận đặt đôi chân khi ngồi xuống. Ông quan sát thi thể từ đầu đến chân. Cô ta dũa móng tay, hạt nhựa đính trên móng tay sơn đỏ chót. Lòng bàn chân có nhiều vết chai. Lông chân cạo sạch đến đầu gối. Móng tay giả, dài hơn hai phân, tạo thành que nhọn ở mỗi ngón. Không có vết thẹo hoặc xâm mình dễ thấy. Tuổi chính xác vào khoảng hai mươi hai.

Ông làm tương tự với thi thể người đàn ông, ngồi xổm bên cạnh cái ghế và quan sát hắn ta. Da đen. Bốn mươi. Khoẻ mạnh. Có thể cao gần hai mét. Hắn có những vết sẹo mổ cũ ở cả hai đầu gối. Không đồ trang sức. Có trám răng bằng vàng. Râu ria lởm chởm.

Hunt đứng dậy. Liếc sơ qua thấy đôi ủng làm việc đặt bên cạnh tủ đựng áo quần, quần jeans, quần lót sa-tin màu kẹo táo. Ông thấy cục gạch lớn bên cạnh giường ngủ. “Yoakum.” Hunt gọi và Yoakum đi ngang qua căn phòng. Hunt chỉ vào cục gạch lớn. Một bên cục gạch be bét máu khô dính. “Tôi nghĩ đây là hung khí gây án mạng.”

”Nhìn đúng là nó.”

Hunt đứng thẳng lên. “Chờ chút.” Ông bước xung quanh đôi chân của tử thi nam và bước qua cánh tay của tử thi nữ. Những cảnh sát khác dựa vào cánh cửa mở như thể Hunt làm ngơ họ. Ông quỳ xuống cạnh cánh cửa, ngón tay của ông lướt qua tấm thảm nơi dấu lõm chạy song song dọc theo chiều dài của cục gạch. Khi đứng lên, ông thấy Cross đang đứng ở cánh cửa.

”Tôi giúp ông được chuyện gì không?” Cross hỏi.

”Lấy dây nhựa quây chặt sân nhà và ngoài đường. Gọi hình sự hiện trường và bác sĩ pháp y đến đây.” Hunt vuốt mặt mình. “Và tìm cho tôi một lon Coke.” Ông nắm cánh tay áo Cross khi ông ấy quay đi. “Không phải từ tủ lạnh của căn nhà này. Và dọn dẹp hành lang.”

Hunt nhìn hành lang trống trơn, linh cảm Yoakum đằng sau mình, bèn quay người lại. Bị đặt vào tình huống chết chóc và thảm khốc này, bạn ông trông có vẻ xúc động. Hunt nhìn qua ông ta, và giữ giọng thấp khi nói. “Còn sớm để kết luận, tôi biết, nhưng tôi không nghĩ án mạng này có chủ mưu cố sát.”

“Bởi vì?”

Hunt búng một ngón tay đến đáy cánh cửa. “Vết lõm trên thảm. Dường như họ dùng cục gạch đó làm đồ chặn cửa.” Ông nhún vai. “Kẻ giết người nếu có chủ mưu thường thường mang theo vũ khí.”

“Có thể. Có thể gã ta biết trước cục gạch sẽ có sẵn ở đó.”

“Quá sớm,” Hunt đồng ý. “Ông đúng.”

“Bây giờ ông định thế nào?”

Hunt ám chỉ căn phòng với lòng bàn tay xoè ra. “Rào kín khu vực này cho đến khi hình sự hiện trường đến đây. Tảo thanh tội phạm trên đường phố. Yêu cầu chó đánh hơi tử thi đến đây, nhỡ trong trường hợp...” Hunt dừng nói và quay vào trong hành lang. “Tổ cha!” Ruột gan ông như nổ tung. Ông đấm mạnh vào trong tường, rồi dậm mạnh vào phòng khách. Khi Yoakum bước vào trong phòng, Hunt đè mạnh hai bàn tay vào khung cửa ra vào. Ông đập trán uỳnh uỳnh vào khung gỗ.

“Chết tiệt!” Ông bạng đầu của ông mạnh hơn.

“Nếu ông muốn phun máu đầu,” Yoakum nói. “Có nhiều cách khác dễ hơn đấy.”

Hunt quay lại, lưng tựa vào cánh cửa dăm gỗ đâm tua tủa. Ông biết khuôn mặt ông trơ ra. “Cái này không phải.”

“Án mạng thì không bao giờ.”

“Lẽ ra cô bé phải có ở đây, John.” Hunt thình lình cảm thấy cần thở không khí trong lành. Ông xé mở cửa trước, văng ném những chữ qua vai ông với một chút hằn học. “Lẽ ra mọi chuyện phải được chấm dứt ngay hôm nay.”

“Tiffany?”

“Tất cả. Mọi thứ.”

Yoakum không hiểu, nhưng sau đó ông hiểu.

Cái địa ngục mà Hunt đang ngụp lặn trong đó.

Đời sống của Hunt, như ông biết.

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.