Mộng Giang Hồ

Chương 71: Chương 71: Không cùng đạo




Trần Bạch Hoàng cũng không mặn mà trò chuyện với tiểu hòa thượng cho lắm, song nghĩ dù sao đối phương cũng có ân với mình, vì vậy họ Trần không khỏi bài trừ đi bộ mặt lãnh đạm của mình, chỉ có thể cười trừ lảng tránh:

“ Sư đồ các ngươi là đang đi đâu đây? Chùa chiền miếu mạo còn đó, chẳng lẽ đều đã bỏ không?”

Bị hỏi bất ngờ, Tuệ An nhất thời khó nghĩ, đưa tay gãi gãi đầu trọc, sau đó nói:

“ Kỳ thực ta cũng chẳng biết là đi đâu, chỉ nghe sư phụ nói rằng ta nên theo người ra ngoài mở mang tầm mắt, theo người đi hóa nghiệt duyên.”

“ Còn chùa chiền kia, thú thực Long Môn Tự của chúng ta không lớn lắm, cả cổ tự chỉ có vài người mà thôi. May mắn là ở lại còn có mấy vị lão niên trông coi hộ, nếu không cổ tự không tránh khỏi chuyện thưa thớt nhang đèn rồi.”

Trần Bạch Hoàng nghe vậy thầm thán phục sự quyết tâm của Phổ Đức Thánh Tăng, quyết bỏ lại an nhàn nơi sơn thủy đi hóa giải khuyết thiếu trong lòng, cái này thực là tâm cảnh một người tu hành nên có, tu tại tâm bất tu tại tự.

“ Đúng rồi! Lần này sư phụ ta nói sẽ dẫn ta đi Bát Vương Thành, ngươi biết nơi đó là nơi nào không?”

Trần Bạch Hoàng đương nhiên là biết, dù sao mấy quyển địa đồ kinh thư của Cửu Địa hắn cũng không phải là đọc cho có đấy.

Bát Vương Thành, thành của bát vương, là một thành trấn lớn nằm tại phí nam đường biên giới của Chấn Xứ và Cấn Xứ, vô cùng sầm uất, là nơi ăn chơi trác táng của thiên hạ hào phú. Bát Vương Thành do tám sư huynh đệ kết nghĩa cát cứ lập nên, là nơi độc lập không phụ thuộc bất kỳ thế lực lớn nào của Cửu Địa.

Tám vị huynh đệ kia đều là kẻ võ biền cùng mưu lược, lại thường đi cùng nhau nên chiến lực cùng tầm ảnh hưởng đều khiến thiên hạ bao kẻ kiêng dè, sau này nhờ đánh đông đánh tây quấy phá một cõi rốt cục gây dựng nên cơ ngơi không đến nỗi nào.

Chính vì khôn khéo lựa chọn mảnh đất cắm dùi đầy đủ thiên thời địa lợi, dễ bề kinh doanh lại không dính líu quá nhiều đến lợi ích của các thế lực khác nên tám kẻ kia cũng được đà mà kiêu ngạo, tự xưng thành vương giả trong võ lâm giang hồ. Dân gian vì cái lẽ đó mà thuận miệng gọi thành trấn kia là Bát Vương Thành, cái tên xưa cũ của vùng đất kia cũng từ đó mà rơi vào quên lãng.

Về quy mô cũng như tầm ảnh hưởng, Bát Vương Thành so với các thế lực lớn khác đương nhiên quá chênh lệch, dù sao cũng chỉ là một cái thành trấn cô độc, cũng không có bất kỳ cái thế lực nào phụ thuộc, hơn nữa tư duy kinh doanh của bát vương kia cũng là bảo thủ đến cực điểm, vì lo sợ dính líu đến tranh chấp của các đại thế lực nên bo bo giữ mình, không dám nghĩ đến chuyện mở rộng kinh doanh. Cái này đối với thiên hạ anh tài mà nói quả thật cũng là một cỗ chuyện cười, bởi vì chiến lực cùng tài nguyên của tám kẻ kia cũng không phải là hàng thùng rỗng kêu to, thế nhưng đảm phách của bát vương lại quá bé nhỏ.

“ Có biết một chút! Nghe nói nơi đó là một chốn ăn chơi ca múa của người có tiền.” – Trần Bạch Hoàng gãi gãi cái tai, nói.

Tuệ An nghe vậy liền tròn xoe mắt, đưa tay lên xoa cằm nhỏ, sau đó quay ngược quay xuôi rồi nói nhỏ đủ để Trần Bạch Hoàng nghe thấy:

“ Này! Hay là sư phụ ta bán đi Long Môn Tự sau đó liền dẫn ta đến Bát Vương Thành tiêu tiền. Cái này... ta nghi lắm. Rất có thể sư phụ ta gặp tâm kiếp, lần này đi lịch lãm chốn hồng trần để nhìn thấu được nhân gian. Phải chăng tiêu tiền cũng là một cách rèn luyện tâm tính của người xuất gia a?”

Trần Bạch Hoàng nghe vậy liền há hốc mồm, Tuệ An hòa thượng nói điều này quả thực khiến thiếu niên như lâm vào u mê, lời này quả quá to gan.

Thiếu niên vội bịt miệng tiểu hòa thượng, nói nhỏ: “ Này! Sao ngươi to gan vậy, không sợ Phật Tổ giáng thiên phạt sao? Cái gì mà tiêu tiền là rèn luyện chứ?”

“ Ơ thế không phải à? Hai giời! Thế thì người xuất gia chúng ta đến nơi xô bồ đó làm gì chứ?” – Tuệ An chán nản.

“ Ngươi hỏi ta ta biết hỏi ai? Lại nói, chẳng có ai lại đi mua một ngôi chùa cả.” – Trần Bạch Hoàng cau mày.

Tuệ An tròn xoe mắt: “ Ngươi không biết ư? Một ngôi chùa đáng giá lắm đó. Có vài nơi ta từng đi qua có rất nhiều chùa chiền, trong đó chẳng thấy sư sãi tụng kinh bao giờ, họ chỉ để ý thu tiền cúng viếng của phật tử cùng cho thuê điền trang xung quanh tự để lấy tiền thôi. Thường thì những ngôi chùa như thế kiếm nhiều tiền lắm. Sư phụ ta thường nói với ta rằng mạt thế đến nhiều kẻ giả danh sư sãi để lừa tiền thiên hạ.”

Trần Bạch Hoàng nghe vậy càng đau đầu, chả nhẽ tiểu hòa thượng này không nhận ra mâu thuẫn trong lời nói của y hay sao, chả nhẽ y không biết lời nói như vậy chính là đang gián tiếp nói sư phụ y là giả sư hay sao.

Thực ra lời tiểu hòa thượng nói cũng không hẳn là sai, thời kỳ loạn lạc, lắm kẻ bày ra chiêu trò mở chùa mở miếu để lừa lọc tiền tài của giáo đồ, chuyện này khiến cao tầng tam giáo Thái Cực Phật Thư đều vô cùng đau đầu, song vì một số địa phương không thuộc quản hạt trực tiếp của đại giáo thành ra mọi chuyện chỉ có thể nhắm mắt làm ngơ.

Huyên thuyên một hồi, Tuệ An lần nữa nhãn tình sáng lên, nắm đấm tay phải đập lòng bàn tay trái, buông giọng:

“ À! Càng nói ta càng thấy ta hồ đồ quá. Sư phụ ta sao có thể là đám giả sư đó được, người là bậc nào cao tăng đắc đạo, sao có thể làm chuyện lừa lọc bách tính chứ.”

Trần Bạch Hoàng thực sự đã hết kiên nhẫn với tiểu hòa thượng, cuối cùng đành phải nói khéo:

“ Thôi ta mỏi rồi! Ta muốn nghỉ ngơi, chú tiểu ngươi cũng đi nghỉ đi.”

“ Đã mệt rồi sao? Chán thế!”

“ Ta rất muốn nhìn xem Bát Vương Thành kia là thành trấn bực nào, có thật là nơi đáng để thiên hạ đến tiêu tiền hay không a. Ha, nghĩ đến lại háo hức khó ngủ.” – Tuệ An vừa nói vừa hướng ánh mắt long lanh đầy phấn khích lên nóc nhà một cách vô thức.

Dường như nghe được lời nói của chú tiểu, một phần cũng vì ngồi không khó chống lại cơn buồn ngủ, Hạ Quang Nghĩa rốt cục không nhịn được, cười nhẹ lên tiếng:

“ Một tiểu hòa thượng lại háo hức với chuyện nhân gian như vậy, đây không phải điều tốt!”

Chú tiểu nghe vậy quay ngoắt lại cau mày nhỏ, nói: “ Thì có sao? Đây là sư phụ đưa ta đi lịch lãm, để ta hiểu được nhân tình thế thái, từ đó nhanh chóng nhìn thấu hồng trần, mở ra tuệ căn, giác ngộ đại đạo. Chuyện đó có gì không tốt chứ.”

Nghe tiểu hòa thượng ngây ngô phản bác, Hạ Quang Nghĩa cười nhạt lắc đầu, sau đó hai tay đan vào nhau đồng thời chống thanh củi nhỏ xuống đất, y đưa ánh mắt đầy châm biếm nhìn về phía hai tiểu tử trước mặt, cằm chạm mu tay, từ tốn thả giọng:

“ Năm xưa Thánh Tăng cũng chỉ vì đưa hai vị sư huynh của ngươi ra ngoài lịch lãm để rồi hai tên ác tặc kia tâm tình đại biến, chấp mê bất ngộ, chìm đắm tại dục vọng nhân gian đấy.”

Nghe thấy lời vậy Trần Bạch Hoàng không khỏi cau mày, thiếu niên lập tức nhìn sang Phổ Đức Thánh Tăng, chỉ thấy lão hòa thượng vẫn im lặng tụng kinh, dường như bỏ ngoài tai hết thảy những gì họ Hạ vừa nói. Trần Bạch Hoàng chỉ biết thở dài trong lòng, dưới ánh mắt của hắn, Hạ Quang Nghĩa hồi nãy rõ ràng tỏ ra thái độ mười phần kính ý với Phổ Đức Thánh Tăng, thế nhưng không ngờ lúc này y lại thốt lên lời đả thương tâm người như vậy.

Tuệ An hòa thượng không có ngốc, chú tiểu đưa ánh mắt ngờ vực hướng về phía họ Hạ, cất lời trầm lạnh:

“ Hạ thí chủ nói lời vậy nghĩa là sao?”

Hạ Quang Nghĩa bài trừ đi biểu tình cười cợt, nghiêm lại mặt mày, một lời nói nhưng ngụ ý hai người nghe:

“ Lời thật thì mất lòng! Mặc dù bản thân ta là người mười phần ngưỡng mộ đạo đức của Thánh Tăng, thế nhưng ta vẫn luôn cho rằng cách dạy dỗ đồ đệ của Thánh Tăng là một thiên đại sai lầm. Đành rằng những chốn thành thị hai người đi qua chưa chắc Bát Vương Thành có thể so sánh được, thế nhưng Bát Vương Thành là một chốn vui vẻ, là cấm địa của những kẻ đạo tâm yếu mềm. Giữa chốn bán bạc mua vui kia, những kẻ ngờ nghệch như chú tiểu đây rất dễ bị dụ dỗ mà quên đi phẩm hạnh của mình. Hai tên kia hẳn là minh chứng rõ ràng nhất, chẳng lẽ Thánh Tăng không để ý đến điều đó sao.”

Nghe thấy lời vậy, Tuệ An hòa thượng nóng mặt, gân cổ cãi:

“ Hạ thí chủ! Xin người cẩn thận lời nói, ngươi không phải là người phật môn sao hiều được chúng ta. Lại nói, ta mặc kệ hai sư huynh của ta là người như thế nào, thế nhưng tất cả những gì sư phụ ta làm không có sai.”

Chứng kiến biểu hiện của Tuệ An cũng giật mình ngạc nhiên, rõ ràng là một cái chú tiểu vài ba tuổi đầu mà lại to gan phản bác một trung niên hán tử kinh nghiêm nhân sinh đầy mình, chẳng lẽ chú tiểu này thực hiểu những gì Hạ Quang Nghĩa nói sao.

Hạ Quang Nghĩa cũng không có nói thêm lời cay nghiệt nào, y lần nữa cười nói:

“ Có vẻ chú tiểu này đã tiếp xúc với chuyện nhân gian không ít a, lời nói rất có ý tứ, không phải một tiểu hòa thượng ngờ nghệch quanh năm suốt tháng ở chùa có thể nói được.”

Lúc này, không còn giữ im lặng nữa, Phổ Đức Thánh Tăng lên tiếng:

“ A Di Đà Phật! Hạ thí chủ quả là người sâu sắc, sau này ắt sẽ là một bậc hùng tài vĩ lược.”

“ Những chuyện xưa cũ quả thật là bần tăng không đúng, thế nhưng là một người tu đạo cũng không thể mãi mãi chọn thanh tu làm đường đi cho mình. Không nhiễm bụi trần làm sao hiểu được nhân sinh, làm sao giác ngộ đại đạo. Còn đường sau này Tuệ An đi do hắn tự chọn lấy, bần tăng chỉ có thể mỏi mắt mong chờ mà thôi.”

Tiểu hòa thượng Tuệ An nhất thời cứng họng, cũng không biết nói lời nào, Phổ Đức Thánh Tăng nói một lời khiến Tuệ An dần hoài nghi về thế giới ngoài kia. Rốt cục, đây có lẽ là lần đầu tiên tiểu hòa thượng có suy nghĩ sâu sắc tại bản tâm…

“ Năm đó vãn bối cùng huynh trưởng chỉ là hai cái mao đầu tiểu tử chạy bàn làm thuê qua ngày, mắt nhìn Tuệ Tâm tên kia được Thánh Tăng hết mực coi sóc giữa chốn phồn hoa kia mà lòng ghen tỵ. Chúng ta đã từng tự hỏi rằng nếu được một vị hiền giả như thánh tăng thu làm đồ đệ thì hạnh phúc biết nhường nào.” – Hạ Quang Nghĩa nhắm lại đôi mắt, thở dài hoài niệm.

Trong lời nói của họ Hạ mang vài phần tiếc nuối, Tuệ Tâm người kia chính là đại đệ tử của Phổ Đức Thánh Tăng, tục danh 'Dâm Tăng', là một kẻ chuyên bắt cóc mỹ nhân thiên hạ rồi làm trò đồi bại vùi hoa dập liễu khiến võ lâm giang hồ căm phẫn không thôi. Dâm Tăng vốn dĩ đã là một cao tăng đắc đạo cùng thế hệ với huynh đệ họ Hạ, thế nhưng chỉ vì một lần rơi vào lưới tình mà bỏ qua hết thảy đạo hạnh tiến về biển mê.

Dừng lại một nhịp, Hạ Quang Nghĩa bùi ngùi cảm khái:

“ Cám dỗ, dục vọng đản sinh tâm ma. Ranh giới giữa thiện ác tà tựa như một sợi chỉ mong manh bất cứ lúc nào cũng có thể đứt. Làm thường nhân như chúng ta cũng chỉ biết thuận theo thời thế mà sinh tồn, thế nhưng người xuất gia các người việc gì phải dính vào vòng luẩn quẩn kia.”

Phổ Đức Thánh Tăng không cho là như vậy, y lắc đầu chậm rãi giải:

“ A Di Đà Phật! Ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục! Trước sau chưa có ai một tay đả thông địa ngục, thì đồ đệ của bần tăng sẽ làm chuyện đó. Là phật là ma kỳ thực cũng chỉ nhất niệm mà sinh nhất niệm mà thành mà thôi.”

“ Bần tăng rốt cục cũng không thể sống thay một đời cho đệ tử của mình. Tuệ Tâm hay Tuệ Thiện cũng được, thậm chí là Tuệ An sau này cũng vậy! Nếu chúng một lòng đã quyết thì lời nói vô nghĩa của nhân gian há có thể làm phai mờ bản tâm chúng. Là phật, là nhân hay là ma, bản thân chúng tự có quyết định.”

“ Là sư đồ, lỗi lầm chúng gây ra bần tăng chỉ có thể xấu hổ mà chịu dày vò của tu la địa ngục. Thế nhưng, là người tu hành, bần tăng tự hào vì mỗi kẻ trong số chúng đều một lòng tin vào bản tâm của mình.”

Nghe thấy hết thảy lời nói của Phổ Đức Thánh Tăng, Hạ Quang Nghĩa rốt cục chỉ biết lắc đầu buồn bã. Đến bây giờ họ Hạ đã hiểu lý do vì sao mà phật giáo Cửu Địa luôn coi Phổ Đức Thánh Tăng là dị đồ, hóa ra năm xưa chư tăng thánh địa phật môn Vô Thừa Tự vây ép giam lỏng Phổ Đức Thánh Tăng không phải là không có lý do.

“ Nếu vậy vì sao Thánh Tăng phải bôn ba xuôi ngược đuổi theo hai tên kia? Chẳng lẽ người không thấy điều đó mâu thuẫn với lời nói hay sao? Nếu đã vô lực làm gì cớ sao còn tốn công tốn sức tìm đến hai kẻ kia.”

Phổ Đức Thánh Tăng hiếm được nụ cười hiền lành, từ tốn nói:

“ Hạ thí chủ có điều không hiểu, thế gian nào có mọi sự thuận lòng người.”

“ Hai tên nghịch đồ kia có đường đi của riêng mình, thế nhưng lại đi ngược lại với đạo lý của thiên hạ. Là người dạy dỗ chúng, bần tăng tự phải nhận phần trách nhiệm này.”

Đạo bất đồng bất tương vi mưu, mỗi người đều có đường đi của riêng mình, điều này không thể tránh khỏi có kẻ lạc loài đi ngược lại với giáo lý của số đông, gây ra muôn vàn đau thương cùng ân oán.

Nghĩ đến vậy, Hạ Quang Nghĩa cũng không khuyên thêm cái gì, chỉ biết thở dài nói:

“ Dẫu rằng đúng sai cũng chỉ là quan điểm riêng của mỗi người, nhưng đã cùng chung một thiên hạ thì không thể không cúi đầu làm theo. Thánh Tăng làm việc nên làm, thứ lỗi cho vãn bối vừa rồi mạo phạm.”

Phổ Đức Thánh Tăng cười hiền từ đáp lại:

“ A Di Đà Phật! Hạ thí chủ khéo hiểu lòng người, là người thông tình đạt lý, có thể giao tiếp với thí chủ là vinh hạnh của bần tăng.“....

.....................................................................

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.