Nhân Thường

Chương 84: Chương 84: Ngoại truyện: Cảm ngộ nơi Địa Phủ




Nơi này bầu trời u quang xám xịt, khi lại chuyển sang nhàn nhạt. Phía đằng xa một đại thành dường như khá rộng lớn, tại cổng thành đề hai chữ U Minh.

Trên đường cái, khá nhiều bóng người mờ ảo như hư ảnh qua lại, khuôn mặt bọn họ đều một màu xám tro. Thậm chí có thể nhìn thấy một số kẻ hình thù cổ quái, lại một số kẻ không có chân. Phía dưới bụng lan tỏa từng làn khói, phiêu phù giống như là ma xó vậy.

Ở nơi góc cuối con đường nhỏ, bóng dáng một thiếu niên đứng đó, hắn chính là Hàn Tông.

Bên cạnh hắn còn có một người, tay trái cầm vòng niệm mộc, tay phải cầm trượng lớn ba mươi sáu vòng đan xen. Nhìn qua rất rõ đây là một nhà sư, nhưng cả y và hắn ánh mắt đều nhìn về hướng người ngồi đối diện.

Người này ngồi khoanh chân, hai bàn tay xếp vào nhau để ngửa, trên đó một cành cây khô nằm ngang. Ông ta mặc một thân áo vải đã cũ, nếu mà nhìn kỹ ắt sẽ thấy mặc dù y phục nát nhàu tàn phai, nhưng tuyệt nhiên không dính chút hạt bụi nào.

Bên cạnh ông ta có một con khuyển đang nằm, một bên tai cụp mà bên kia lại vểnh lên, ánh mắt nó lim dim. Còn ông ta lại bình thản tự thanh nhìn hắn.

“Ta nhìn ông tướng mạo phi phàm, hẳn là bậc trí giả. Sao lại ngồi ở góc đường khất thực thế này?.”

“Ta có duyên với một người nên đang chờ hắn, muốn hắn giác ngộ…”

Ông ta thâm ý nhìn hắn, mà Hàn Tông nghe thế cau mày hỏi:

“Ông… đã giác ngộ?.”

Ông ta chỉ mỉm cười không nói lại càng làm cho hắn thắc mắc tợn. Giác ngộ? Thế gian này liệu có được mấy người?.

Chí tôn thì vô số nhưng tự thân giác ngộ lại hiếm có. Một bên dùng sức mạnh chứng đạo, một bên dùng trí huệ ngộ đạo. Khác nhau vô cùng.

Nghĩ như vậy hắn bèn nổi hứng muốn thử tài ông ta một phen. Hàn Tông cúi xuống nhặt một hòn đá lên rồi hỏi ông ta:

“Ông tự nhận mình là bậc giác ngộ, ta lại muốn hỏi. Viên đá này là vô sinh hay hữu sinh*?.”

(*) vô sinh tức là không có sinh mệnh và hữu sinh là có sinh mệnh.

Ông ta nghe vậy mỉm cười nhìn nhìn hắn rồi nói:

“Thế gian này vốn có hữu sinh và vô sinh, lại có cả từ vô sinh sang hữu sinh.”

Hàn Tông nhíu mày, hắn dựa vào kiến thức kiếp trước mà biết được đôi điều. Có nhiều người nói thế gian có vật vô sinh và vật hữu sinh, cũng có người lại nói thế gian chỉ có hữu sinh. Nhưng ông ta, người trước mắt này lại nói có cả ba, hắn liền chắp tay:

“Xin được chỉ dạy thêm cho.”

“Có những vật sinh ra đã là hữu sinh, ví con người và loài vật. Lại có những vật sinh ra chưa có sinh mạng, ví như hòn đá ngươi đang cầm.”

Ông ta nói tiếp:

“Từ vô sinh chuyển sang hữu sinh là cả một quá trình rất dài, tuế nguyệt thăng trầm. Dựa vào thiên thời địa lợi, hấp thu nhật nguyệt tinh hoa mà hình thành linh trí, mở ra sinh mạng.”

Ông ta nhìn ra suy nghĩ của hắn thì lại nói tiếp:

“Vạn vật nguyên bản hữu sinh cũng là không sai, vốn dĩ sinh linh đã được trú định sẵn. Trải qua thử thách kiếp vấn của thiên địa nữa mới có thể hình thành sinh mệnh.

Vật vốn đã có linh thường tâm cơ bất ổn, tính cách thất thường lại không kiên định. Vì thế mới cần thời gian tu hành, mới cần giác ngộ hiểu đạo.

Vật cần thời gian chuyển linh vốn đã được thiên địa ưu ái, hòa nhập đất trời, sống thọ hơn muôn loài...”

Ông ta nói thêm một đoạn nữa thì Hàn Tông cũng hiểu ra chút phần chân lý, dẫu vậy cũng cái hiểu cái không.

Thật ra chính là chúng ta làm khó lẫn nhau, tự đi phân loại một cách rành rọt để rồi lại lọt vào mớ bòng bong ấy.

Vô sinh thì thế nào, hữu sinh thì ra sao? Liệu nó quan trọng lắm không?. Có hay không đều là do mức độ hiểu biết của mỗi người mà nhận định mỗi khác. Chẳng ai giống nhau rồi lại tự cho là mình đúng, rồi lại nghi ngờ mà ngã lậm trong tư tưởng của kẻ khác.

Vị sư bên cạnh hắn niệm một tiếng a di đà, Hàn Tông nghe vậy quăng hòn đá đi sau đó hỏi tiếp:

“Âm phủ vốn là nơi nhiều nghiệt quả và bất hạnh nhất, tại sao chư vị Thần, Phật, Bồ Tát không cứu rỗi chúng sinh?.”

Ông ta từ từ đứng dậy, bàn tay mở ra hướng tới hắn, giống như chờ hắn chạm tay vào nắm lấy.

Thấy cảnh này Hàn Tông không khỏi giật mình, hắn bất giác lùi lại hai bước đề phòng. Sau nhìn ra ông ta chỉ giơ tay như chờ đợi, hắn mới nghi hoặc ngẫm nghĩ.

Thấy hắn như vậy, ông mỉm cười thu lại bàn tay rồi chậm chạp lời nói:

“Chư vị đều giơ tay ra cứu, chỉ có người ngã là không cứu được.”

“Thế nào là người ngã?.”

“Người trầm mê sắc dục, kẻ ham muốn danh lợi. Người chìm trong thù hận, kẻ đọa lạc nơi giàu sang. Người tiểu nhân bội tín, kẻ sinh lòng khởi tham…”

“Tại sao Người không đến nâng đỡ, mà chỉ giơ tay?.”

Ông lắc đầu nói:

“Có cứu lên cũng sẽ lại ngã thôi. Ví như một kẻ trộm cắp, nếu mà cho vàng bạc để anh ta từ bỏ trộm cắp, liệu anh ta có thoả mãn mà hướng thiện?.

Khi giàu sang phú quý rồi, anh ta sẽ lại chuyển sinh lòng tham khác thôi. Quyền, sắc, danh…

Người có lòng hướng thiện là người có lòng hối cải biết sai, đó mới là người nắm được tay của đức Phật và chư vị Bồ Tát. Người ngã trên đời có rất nhiều, kẻ muốn đứng lên có được bao nhiêu?.

Người cho dù có tất cả quyền, sắc, danh… thì sao?

Vẫn sẽ là trầm luân trong những thứ đó thôi. Tu hành vất vả, bể khổ nhiều cám dỗ. Tự tạo nghiệt, cũng chỉ có bản thân mới gỡ giải được nghiệt.”

Hàn Tông mơ mơ hồ hồ hiểu ra thêm một chút ít gì đó, hắn trầm ngâm không nói.

Khi xưa kiếp địa cầu, hắn từng đọc một đoạn nào đó trong một quyển hướng tâm tịnh thanh nhàn thế này:

“Sinh ra không có gì, chết đi liệu có mang được theo?

Thứ mang được cũng chỉ có một chữ tâm.

Tâm tốt hay tâm xấu đều là do bản thân.

Mang được đi ít nhưng lại để lại nhiều, để lại nỗi đau cho người khác, để lại hậu quả cho người khác, để lại dục vọng cho người… để lại rất nhiều.

Khi sống xin hãy trồng một bông hoa, khi mất đi mới có người mang hoa tới mộ.

Sinh ra trong nhung lụa cũng nên tích đức hành thiện. Sinh ra hưởng lạc cũng không nên hưởng hết, bởi vì lạc đó đều là do người thân dùng quả nghiệt mà đổi lấy.

Dùng lạc hành thiện một chút cũng là giảm bớt đi chút tội nghiệt quả báo cho người thân.”

Nghĩ tới đây hắn lại chắp tay hỏi:

“Người mà ông chờ đã tới chưa?.”

Ông mỉm cười đáp:

“Đã tới, đã tới.”

Hàn Tông gật đầu hiểu, hắn nghiêng mình một cái trước ông ta, sau quay người đi một đoạn lại quay lại hỏi:

“Ông chờ ở đây bao lâu rồi?.”

“Ba ngàn năm.”

Nhìn theo bóng Hàn Tông, vị sư trẻ tuổi niệm một tiếng Phật trước ông ta, sau định cất bước đi theo thì trong đầu vang lên âm thanh:

“Đường cơ duyên của hắn hãy để hắn tự đi, con nên về tu hành cho tốt.”

Vị sư nam này giật mình quay lại, nhưng lời nói kia không phải do ông lão khất thực khi nãy nói. Chỉ thấy một người khoác bộ cà sa đỏ, đầu đội mũ thất phật, phía sau tỏa ánh kim quang. Bàn tay trái nâng một viên ngọc lấp lánh, tay phải cầm tích trượng sáu vòng.

Dưới đôi chân trần ẩn hiện hư ảo có hình đài sen, bên cạnh ngài con khuyển kia hình dáng hơi giống kỳ lân, nó đưa mắt nhìn về phía bóng dáng người kia.

“Con xin bái lạy Bồ Tát…”

Vị sư trẻ tuổi này sợ hãi lẫn vui mừng vội vàng quỳ xuống hành lễ, y niệm một tiếng Phật.

Nhưng mà người đi đường xung quanh chỉ thấy vị sư tăng này quỳ trước một bức tường thì không khỏi cười khẩy nhạo báng.

“Đạo khác lối, người khác đường. Con hãy tự đi con đường của mình đi.”

Người nâng bàn tay lên, y cảm giác được một sức mạnh vô hình nâng lên. Bản thân vừa đứng vững, người trước mặt đã không thấy đâu.

Y nhìn quanh bốn phía sau đó mới thở dài một tiếng, ánh mắt cũng trở lên xa xăm theo hướng người kia vừa khuất.

Bồ Tát ở đây suốt ba ngàn năm, chỉ để giơ tay chờ hắn nắm. Kết quả…

Âu cũng là bởi một chữ duyên.

“Một niệm khởi duyên chờ ngàn năm

Chỉ để đợi người giơ tay nắm

Vô minh đâu hiểu sự vô thường

Tìm lại một niệm thật xa xăm”

….

Đây là một chương trong tương lai theo bước nhân vật Hàn Tông ở dưới địa phủ.

Mọi lời nói cũng như câu truyện trên đều là hiểu biết tự thân của tác giả. Truyện chỉ mang tính chất chiêm nghiệm và giải trí, đem đến độc giả những phút giây thư giãn.

Truyện hay bất cứ một thứ gì liên quan tới sáng tác, đều mang đậm chất tư tưởng của Các Tác Giả. Bạn đọc xin hãy tỉnh táo, đừng lầm lạc theo quy chuẩn trong đó, hãy đúng với ý nghĩa mà truyện ra đời.

…..

Bạn có thể dùng phím mũi tên hoặc WASD để lùi/sang chương.